Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2015

Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao tại Nhật Bản

Sự phát triển nhanh của một số ngành, nhất là các ngành công nghiệp chế tạo đã làm thay đổi nhanh cơ cấu ngành sản xuất cũa Nhật Bản. Tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm đi đáng kể trong khi tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên. Năm 1952, các ngành nông, lâm, ngư nghiệp còn chiếm tới 22,6% thì đến năm 1968 chi còn chiếm 9,9% GDP trong khi tỷ trọng của công nghiệp và xây dựng và bán chung cư times city đã tăng từ 31,3% lên 38,6% GDP.
Ngoại thương cửa Nhật Bản cũng tăng nhanh. Từ năm 1950 đến năm 1971 kim ngạch ngoại thương tăng từ 1,7 tỷ USD lên 43,6 tỷ USD. Đồng thời, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu đã có sự chuyển biển theo hướng gia tăng tỷ trọng các sản phẩm của các ngành công nghiệp nặng như thép, máy móc thiết bị, các sản phẩm điện tử, ô tô.
Nhờ tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, thu nhập quốc dân tính theo đầu người của Nhật Bản đã gia tăng đáng kể. Năm 1972, thu nhập quốc dân theo đầu người của Nhật Bản ước tính đạt 2.300 USD, cao bằng nước Anh. và gần bằng một nửa nước Mỹ. Vị trí của Nhật Bản trên trường quốc tế đã được nâng cao dần.

Sự tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn này là do các nhân tố sau đây:

Là một quốc gia nghèo về các loại tài nguyên khoáng sản nhưng Nhật Bản có một nguồn lực hểt sức quý giá là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản một mặt rất coi trọng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, mặt khác có những chính sách và biện pháp để sử dụng có hiệu quả nguồn lực quan trọng này cho mục tiêu phát triển kinh tế.
Ngay từ thời cải cách Minh Trị, giáo dục - đào tạo đã rất được coi trọng. Nền giáo dục của Nhật Bản được đánh giá là có tính cơ bản và hệ thống. Việc thực hiện phổ cập giáo dục hệ 9 năm, coi trọng các yếu tố văn hóa truyền thống, sớm phân luồng đào tạo nghề và đào tạo trình độ cao, đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề không chỉ ở các cơ sở giáo dục - đào tạo mà còn ở cả từng công ty, xí nghiệp... đã mang lại hiệu quả cả về tri thức và hiệu quả phi ữi thức. Người lao động Nhật có trình độ văn hóa khá cao. Lực lượng công nhân trong các cơ sở sản xuất ở Nhật Bản không chỉ lành nghề, có trình độ, có kỹ năng, kỹ xảo mà còn hết sức có ý thức, có tinh thần trách nhiệm với công việc. Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật Nhật Bản khá đông đảo, được đào tạo bài bản, vừa có khả năng tiếp thu, cải tiến, ứng dụng những thành tựu khoa học - kỳ thuật du nhập từ nước ngoài vào sản xuất, vừa có khả năng nghiên cứu, sáng tạo những thành tựu mới về kỹ thuật, công nghệ. Điều nảy đã góp phần quan trọng vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật, công nghệ cùa Nhật Bản, theo kịp trình độ khoa học - công nghệ của các nước phát triển nhất lúc đó. Đặc biệt, Nhật Bản còn có một đội ngũ những thủ lĩnh kinh doanh hết sức nhạy bén và sáng tạo. Đây chính là những con người đóng vai trò mở đường, tổ chức lãnh đạo quá trình phát triển đi lên của các doanh nghiệp Nhật Bản ờ cả thị trường trong nước và nước ngoài, góp phần quyết định vào sự phát triển thần kỳ của nền kinh té Nhật Bản.